mardi 27 août 2019

Thư cho Bạn hiền (ngày 23/06/2019)

  Bạn hiền ơi,
  
  "Cầu nguyện cho Tự Do Tôn Giáo".

Những dòng chữ "Cầu nguyện cho Tự Do Tôn Giáo", là một thông điệp, là một sự báo động gởi đến những Tín đồ của Tôn giáo Thiên Chúa giáo.Rất trầm trọng,nguy cơ cho"Tự Do Tôn giáo"bị chà đạp, bị đàn áp, bị bách hại, bị cấm Đạo, bị bức tử trong tương lai.
Không phải tự nhiên mà"Tòa Tổng Giám Mục Thiên Chúa giáo"lên tiếng, kêu gọi Tín đồ hiệp thông lời cầu nguyện cho :
"Tự Do Tôn Giáo"trong giờ phút này.
Gẫm lại, thời Vua "Thiệu Trị"(1807_1847) đã cấm Đạo, bắt bớ những Tín đồ và đã dùng đến sức mạnh để bắt buộc Tín đồ từ bỏ Đạo của họ, ngày xưa gọi là Đạo Gia Tô và bản án Tử hình dành cho họ, nếu họ từ chối bước ngang qua Thập Tự Giá.
Nhưng với niềm tin, Đức Tin mảnh liệt vào Đấng Cứu Thế, tuyên xưng Đức Tin, những Tín đồ đã sẵn sàng chấp nhận, đón nhận cái chết,hy sinh thân mạng để bảo vệ Đạo giáo, bảo vệ Đức Tin, để được vinh danh"Tự Do Tâm linh"cho chính bản thân mình và Đạo Kitô giáo.
Một sự Tự Do tuyệt đối phần xác và phần hồn.Định nghĩa theo quan điểm của Đạo Kitô giáo.Chấp nhận cái chết để bảo vệ cho Tự Do của con người, quyền tự quyết của từng cá thể, cho Tự Do Tôn giáo, cho tình người, thể hiện qua sự kết hợp với Thiên Chúa toàn năng.
Trong một đất nước Vô Thần,chung sống với những con người Vô Thần, nền Giáo dục Văn hóa và Giáo dục sẽ biến dị,thoái hóa, băng hoại bởi vật chất và bạo quyền.
Mọi hoạt động của Tôn giáo trong một khuôn khổ ấn định, định hướng và chỉ đạo bởi nhà cầm quyền.Phạm vi hoạt động có giới hạn, trong tầm kiểm soát của nhà nước.
Văn hóa luôn song hành với Tôn giáo.
Nhưng một nền văn hóa đồi bại, băng hoại của xã hội chủ nghĩa cộng nô Việt, có tầm ảnh hưởng rất lớn đến phần Tâm linh Tín ngưỡng, về mặt tinh thần của Tôn giáo.
Chủ thuyết cộng sản và chủ thuyết của Tôn giáo như nước với lửa, dù có cố gắng hòa hợp, đã tạo ra một sự xáo trộn trong đời sống Tâm linh của Tín đồ Tôn Giáo.
Niềm tin, Đức Tin luôn luôn bị lay động vì những điều bất công của xã hội Vô Thần dành riêng cho Tín đồ Tôn giáo.Tín ngưỡng trong xã hội Vô Thần luôn luôn bị thiệt thòi trên toàn lãnh vực của cuộc sống.Nhưng với sự đào tạo của các vị Truyền giáo (Linh Mục) một nền móng thật vững chắc về giáo điều, một sự khiêm nhường, hòa nhập vào cộng đồng xã hội với một ý thức không phân biệt về chủ thuyết, hòa nhập để xây dựng đất nước, và cảm hóa con người qua hình ảnh của Thiên Chúa, một nét đẹp của Đạo Kitô giáo, đã khiến cho Tín đồ có một sức sống, mạnh dạn tiến bước về việc Tông đồ phục vụ cho tha nhân, phần hồn cũng như phần xác.
Với cái nhìn của những con người Vô Thần, thì Tôn Giáo Thiên Chúa giáo là một cái gai trong mắt, vì Tôn giáo Thiên Chúa giáo du nhập vào Việt Nam trong thời kỳ Thực Dân Pháp đô hộ đất nước Việt Nam, và không lạ gì cảnh" giận cá chém thớt", và cũng một phần "giòng Tư tưởng văn hóa Tây phương" là sự lo âu đối với đảng cộng sản Việt Nam,Tư tưởng của Tự Do không độc tài, không độc đảng như đảng cộng sản, nên cần phải nhổ tận gốc rễ.
Mọi thủ đoạn được triệt để xử dụng,ngay cả thủ đoạn trong sự ngoại giao quan hệ với "Tòa Thánh La Mã" tại(Rome Italy).
Những kẻ Vô Thần một mặt bức bách, bách hại, chà đạp, kềm kẹp sự mở rộng tầm hoạt động của Tôn giáo và đối với cá nhân Tín đồ.Những kẻ Vô Thần không từ nan sự vu khống, chụp mũ, kết án đối với các vị lãnh đạo Tôn giáo, làm áp lực đối với Tòa Tổng Giám Mục sở tại của bề Trên của các vị Linh Mục các Giáo xứ, buộc thuyên chuyển hoặc áp lực ngừng mọi sự hoạt động với một lý do nào đó, khi các vị lãnh đạo của một Giáo xứ với con chiên có ý đồ phản kháng, lên tiếng nói yêu cầu nhà cầm quyền phải thực thi "Thượng Tôn pháp luật".
Dù biết rằng, pháp luật của nhà cầm quyền Vô Thần là hình thức, không một giá trị nào cho người Dân, vì nhà cầm quyền là người làm luật pháp, họ quyết định để bảo vệ cho quyền lợi của đảng và cho những đảng viên.Có thể nói một nhà nước Vô Pháp.Một chế độ độc tài tạo ra luật lệ theo xu hướng độc tài, thì thử hỏi làm sao có quyền lợi cho người Dân, để bảo vệ Dân, để thực hiện hai chữ "Tự Do" cho đúng nghĩa của "Hiến Pháp". Và chưa nói đến sự bất tuân, bất phục tùng của đảng viên cộng sản đối với cấp trên.
Đảng viên cộng sản tự lập cho cá nhân mình một quyền lực riêng biệt tại sở tại.
Một chế độ của 12 sứ quân thời phong kiến.
Luật pháp của đảng cộng sản là vàng bạc châu báu, là đồng Dollar, là đồng Euro, là nhà cao tầng, là đất đai,v.v...sức mạnh của đồng tiền, vật chất là vạn năng.
Từ nền tảng bản chất của kẻ độc tài, của kẻ cướp, thì luật pháp trên tờ giấy trắng mực đen chỉ là một chiếc bánh vẽ, một hình ảnh một căn nhà, mảnh vườn, lời nói, trong mộng.
Người có Tôn giáo nói chung, luôn luôn theo sự chỉ dạy,dạy bảo của các vị lãnh đạo tinh thần, tiếp nhận lời lành thiện của các Đấng Tôn giáo, nên Họ có một sự kiểm soát từ chính bản thân họ, từ hành động đến lời nói, họ luôn tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh.
Nhưng nhà cầm quyền thì ngược lại, họ lợi dụng vào niềm tin của Tín đồ, một sự sống Đạo Đức của Tín đồ, để họ ru ngủ và trục lợi.Họ lợi dụng sự im lặng của Tín đồ bị trói buộc bởi Giáo điều, để bành trướng tội lỗi, tội ác của quyền lực để mà khống chế, đàn áp, bách hại những con người, những Công Dân lành thiện.
Nhưng nhà nước, họ, nhà cầm quyền đã quên một điều là :"những Tín đồ này là, người Công Dân trong một đất nước Việt, đang bị cai trị bởi nhà cầm quyền cộng sản Việt độc tài, đảng trị".
(Họ, là người Việt Nam, họ không phải là người Trung Quốc).
(Người Trung Quốc không phải là người lạ không phải là người bí mật đến từ một hành tinh nào ngoài vũ trụ), họ là người đã thống trị đất Việt, đã đặt ách nô lệ lên trên đầu Dân Việt từ ngàn năm trước.Và chính Tổ Tiên Ông Bà đất Việt đã đánh đuổi họ trở về đất Hán tộc của họ.Hán tộc không bao giờ từ bỏ dã tâm thôn tính đất Việt.Nhưng đáng buồn thay cho đất Việt, vì có Hán gian cho Hán tộc nên Dân Việt mãi mãi không lớn mạnh.
Con người có hai mặt "Tốt và xấu", tùy thuộc vào hoàn cảnh, môi trường xã hội, văn hóa,kinh tế và chính trị của đất nước.
Không hẳn là người có một Tôn giáo là người tốt và không hẳn là người không có một Tôn giáo là người xấu xa, tội lỗi.
Nhưng ít nhiều, tùy thuộc vào giá trị ý thức của từng cá thể, dù sống trong một hoàn cảnh khó khăn, trong môi trường đầy dẫy tội lỗi tội ác, bởi nhà cầm quyền độc tài tạo ra.
Người lành thiện không cho phép mình tán tận lương tâm, bán linh hồn cho danh vọng, tiền tài, vật chất hư ảo của Thế gian.
Người lành thiện không cho phép mình thờ ơ với hoàn cảnh hiện tiền, nếu có sự quan tâm về đất nước và với tình yêu đất nước.
Tôn giáo hay không Tôn giáo, đều là con Dân đất Việt, bảo vệ Tự Do, bảo vệ chủ quyền đất nước là trách nhiệm, bổn phận thiêng liêng của người con Dân Việt, của con cháu Lạc Hồng 4.000 năm văn hiến.
Hãy viết và nói lên "Tư duy"của Bạn về đất nước của Bạn.Đừng ôm ấp niềm hy vọng sự "Tự Do"trong hoang tưởng.Thể xác của Bạn và tiếng nói của Bạn sẽ tạo ra một "Vườn Địa Đàng" như Đấng đã tạo dựng nên Bạn.
  Bạn hiền ơi,
Viết đến đây, Tôi lại chợt nhớ đến một vị Cố Đạo tên là"Alexandre De Rhodes", vị Cố Đạo đã sáng lập ra chữ "Quốc ngữ" Việt cho Bạn và Tôi.Nhờ vào Quốc ngữ (28 chữ cái) của mẫu tự La tinh, mà chúng ta biệt lập với Hán tộc, không bị đồng hóa.Công lao này như thế nào???
Thôi thì chúng ta trông cậy vào ý Dân, lòng Dân ước muốn, và Dân quyết định.
Để đất nước Việt này không có mang trên đôi vai hai chữ "Nô lệ" của thế kỷ thứ 21.
Thật nhục nhã ê chề nếu trở thành là người "Nô lệ"của Hán tộc, như ngàn năm trước.

mardi 20 août 2019

Thư cho Bạn hiền (ngày 19/08/2019)

Bạn hiền ơi,

Nhà Đường (năm 671), muốn đồng hóa Nhân Dân ta bằng chính sách "Sát phu, giết phụ".
Nhà Minh (ngày 20/01/1407),vơ vét của cải,hãm hiếp đàn bà,con gái, giết đàn ông và " thiến hoạn"nhiều con trai nhỏ tuổi, để mong đồng hóa Nhân Dân ta

Bạn hiền ơi,
Khi Tôi đọc những dòng chữ lịch sử từ nhà Đường đến nhà Minh.Tôi hình dung nổi đau khổ, đớn đau tột cùng của Tổ Tiên Ông Bà mình, thật không sao kể xiết.
Thời đại Tổ Tiên Ông Bà, đất nước mình bị đô hộ dưới ách thống trị của Trung Hoa.
Bao nhiêu sự ô nhục, bị đày đọa, bị tàn sát, một kiếp sống nô lệ ngay trên quê hương của mình.
Bạn và Tôi, cùng phác họa, hình dung cảnh sống hàng ngày của đồng bào ta khổ như thế nào.Cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, bị roi vọt, bị tù đày, còn tệ hơn loài vật, quần quật từ sáng sớm đến chiều hôm, không được ngơi nghỉ.Đêm đêm, muỗi mòng thăm viếng, lạnh lẽo co ro trên mảnh đất quê Mẹ Việt Nam.Tìm hơi ấm nơi đất Mẹ để sưởi ấm cõi lòng, với hình hài còm, lom khom yếu đuối, bệnh hoạn.
Người mất vợ, người mất chồng,Cha Mẹ là tôi tớ,con cái đồng hành cùng Cha Mẹ cũng là tôi tớ.Sự nối tiếp dòng giống của gia đình không còn vì con trai bị " Thiến hoạn ", sống giống như người đã chết.
Con gái thì trở thành một món đồ tiêu khiển cho các "Quan Tàu"vùi dập, nô bộc trong các huyện đường, hoặc tại tư gia của các bọn đại gia, bọn con buôn cho nhà thổ.
Những người con gái nô lệ, không xứng đáng được gọi là con dâu,con dâu họ nhà ai,hay là con dâu của trăm họ Tàu, của kẻ thống trị, đặt ách thống trị nô lệ lên trên con Dân Việt..
Chúng ta làm sao thấy được những hình ảnh của sự hy sinh bậc phụ huynh, bảo vệ cho con cháu, nhưng ít nhiều, chúng ta có thể hình dung cảnh máu đổ, đầu rơi của các bậc sinh thành trong hoàn cảnh này.
Song song, để bảo vệ dòng giống Việt khỏi bị diệt chủng.Tổ Tiên Ông Bà của chúng ta phải làm thế nào, cách thức nào, để duy trì dòng dõi Việt còn tồn tại đến ngày hôm nay.năm 2019 của Thế kỷ thứ 21,???.Bao nỗi ưu phiền,lo âu,toan tính, hao mòn tâm trí của Tổ Tiên Ông Bà để dòng dõi Việt, dòng giống Lạc Hồng không bị diệt vong.
Bạn hiền ơi,
Bạn và Tôi, nhận biết rõ sự hy sinh vô bờ bến của Tiền Nhân chúng ta.Để cho đất nước Việt, tiếng nói Việt luôn mãi trường tồn, cho hơi thở của sự sống còn đến ngày hôm nay.Bao nhiêu xương máu, nước mắt,mồ hôi phải tuôn rơi, có thể nói, "Xương chất thành núi, Máu chảy thành sông".
Nếu Bạn và Tôi, có mặt trong thời kỳ này thì chúng ta sẽ thấu hiểu nhiều hơn và cảm nhận nhiều hơn.Bậc Tiền Nhân của chúng ta đã thành công trong công cuộc bảo vệ được giống nòi, nổi dậy, giải thoát cho toàn Dân, cho người con Việt được thoát khỏi xiềng xích nô lệ của giặc phương Bắc, thật hạnh phúc, ấm lòng phải không Bạn.Tâm trạng Tổ Tiên Ông Bà mình lúc ấy ra sao? Cảm giác thế nào?
Chắc Tổ Tiên Ông Bà của chúng ta sung sướng đến rơi lệ,vui mừng khi nhìn thấy con cháu dựng cờ khởi nghĩa, lập lại biên giới Việt Quốc đối với các quốc gia lân cận.Bảo vệ chủ quyền và an toàn cho con Dân Việt.
Bạn hiền ơi,
Đã qua rồi 1.000 năm bị đô hộ bởi giặc phương Bắc.
Nhưng 1.000 năm sau, kể từ năm 1945,
nước Việt ta, lại bước trở lại vào giai đoạn đầu của lịch sử 1.000 năm trước bị đô hộ, trong âm thầm "kiến tha lâu đầy tổ" của giặc phương Bắc.Họ cấu kết với những đảng viên cộng sản Việt, dòng họ con cháu của "Lê Chiêu Thống"còn sót lại trên đất Mẹ Việt Nam.
"Con tằm ăn dâu" của giặc phương Bắc đã thành công kể từ năm 1945.Những vở kịch,vở tuồng, được dựng lên, được hai đảng cộng sản "Trung+Việt"trình diễn thật xuất sắc.
Kể từ 1945_2019, toàn Dân Việt ngơ ngác, bàng hoàng, vẫn không tin vào mắt thấy, tai nghe, biên giới "Trung+Việt"không còn, đồng "Nhân Dân tệ"lưu hành,trao đổi,mua bán trên toàn cõi đất Việt.Biển đảo, đất đai do người bạn láng giềng (giặc phương Bắc xưa) giữ dùm, một vài thành phố mất hẳn tiếng nói âm thanh Việt.3 đặc khu kinh tế của 3 vị trí tối quan trọng của đất nước đã thuộc về người bạn láng giềng, thực phẩm đầy ấp độc dược du nhập từ bạn láng giềng phương Bắc và chất cần sa ma túy đã xuất hiện, đã được sử dụng qua thế hệ trẻ hôm nay,v.v...
Từng băng nhóm đảng viên cộng sản của các cấp tỉnh thành, huyện, xã,làng, lần lượt thay phiên nhau cướp đất đai, tài sản của người Dân nghèo, trên khắp nẻo đường đất nước Việt, với chiêu bài qui hoạch, xây dựng học đường trên môi miệng,v.v...
Sự mua đi bán lại, đầu tư, của các giới chức lãnh đạo với người bạn láng giềng và những người bạn "Đại gia". Những mảnh đất đơn sơ, sự sống còn của người Dân đã bị sự chiếu cố của giới chức lãnh đạo.
Thương cho Dân oan, chẳng còn mái ấm gia đình, một mảnh vườn tâm, chỉ còn lại độc nhất bộ quần áo che thân,lây lất nương nhờ vào tình thương của những tấm lòng Nhân Ái, hảo tâm, nương tựa vào Tôn giáo, những người con Dân oan chỉ biết chạy đến với Mẹ hiền "Maria",than thở với Mẹ, cầu xin Mẹ,van xin Mẹ che chở.
Ngày đêm, dưới bóng tượng đài Mẹ Maria, ngước nhìn lên Mẹ Maria, lời kinh nguyện dâng lên Mẹ Maria, ước mơ,hy vọng một phép lạ của sự tỉnh thức cho những con người "Vô Thần" độc ác, một lần quay trở về để tôn vinh "Tình người", tình thương cùng đồng loại chủng tộc.
Ít nhất, cũng còn có một Tôn giáo là :
"Thiên Chúa giáo", mở rộng đôi tay, nâng đỡ, ôm ấp,chở che những con người bất hạnh, cùng đinh trong xã hội, qua hình ảnh các vị Linh mục nhân từ, khiêm cung, bác ái, khoan dung.Các vị Linh mục đã tận tình nâng đỡ,an ủi, khuyên lơn, từ tinh thần đến vật chất.Các chư vị Linh mục cùng nhau chia sẻ niềm bất hạnh với những Dân oan.
  Một điều đáng ghi nhận là, quý Linh mục đóng góp khả năng của mình cho những ai bất hạnh, đồng hành cùng với con chiên một thời gian, thì sau đó, Tòa Tổng Giám Mục bề Trên lại thuyên chuyển những Linh mục này đến một địa phận khác.
Hẳn nhiên, sự vâng lời, tuân phục là tuyệt đối theo giới điều của Luật lệ Tôn giáo.
Nhưng,bao nhiêu Linh mục không hoạt động trong lãnh vực cứu vớt,bênh vực cho những ai khổ sở, khốn cùng thì không bị thuyên chuyển???
Thế là chấm dứt mọi hoạt động cùng với những con người khốn cùng trong xã hội, cần đôi bàn tay, cần đến tình người, cần đến sự sống còn của kiếp người, mà hình ảnh con người được nhào nặn qua bàn tay của Thiên Chúa, vật chất và Tâm Linh.
Có một điều gì đó, cái gì đó, nghèn nghẹn trong lời nói của sự tạo dựng Trời Đất, Vũ trụ,con người, cầm thú,cỏ cây của Đấng sáng tạo.
Tôn giáo đầy quyền năng, nhưng là để phục vụ cho Tín đồ hay ngược lại Tín đồ phục vụ cho Tôn giáo???
Quyền lực, quyền lực quả là một sức mạnh của các nhà lãnh đạo đất nước và của các nhà lãnh đạo Tôn giáo.
Kiếp nhân sinh của con người đến bao giờ mới được thật sự là hạnh phúc, ấm no, đôi dòng lệ không tuôn rơi???
Cho đến bao giờ quyền lực không lên ngôi giữa người với người, vì cùng mang hình hài thể xác con người, sự sai biệt loài cầm thú??? Chắc hẳn, thời gian còn xa vời khi vẫn còn trên hành tinh này.
   Bạn hiền ơi,
Có lẽ, số phận tất cả con Dân Việt, phải chăng là "Lưu vong"??? Chắc chắn, chỉ còn lại trên đất Mẹ Việt Nam 1/4 con dân Việt mang hai dòng máu "Hán+Việt".
Qua những việc làm của quý Linh mục thời gian qua.Các Ngài đã tha thiết kêu gọi những tấm lòng hảo tâm đầy nhân ái tình người, trợ giúp cho "Dân oan",song song với việc hàn gắn vết thương chiến tranh cho các cựu Quân Nhân, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa miền Nam Việt Nam, sau thời hậu chiến.Những con người đầy bất hạnh, nhận những bất công sau cuộc chiến giữa hai miền Nam Bắc.Họ, không được hưởng một đặc ân, một quyền lợi nào đến từ chính quyền nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Họ, những cựu Quân Nhân miền Nam Việt Nam (VNCH), trước ngày 30/04/1975 và sau ngày 30/04/1975.
Cái gọi là Thống nhất đất nước của hai miền Nam Bắc, những Quân nhân này không còn được hưởng quy chế của một người "Công Dân", trên chính quê hương đất nước của họ.
Họ, không được nhìn nhận là một người "Công Dân", một người con trong chế độ xã hội chủ nghĩa.Họ, đã bị khai tử bởi dã tâm của chế độ cộng sản, một sự trả thù độc hại trong sự im lặng của giới chức lãnh đạo của đảng cộng nô Việt.Và ngay cả đến vợ con của họ, cùng chung số phận như Cha của mình.Mọi sự ưu đãi của chế độ không dành phần đặc biệt cho con cháu hậu duệ của Việt Nam Cộng Hòa miền Nam Việt Nam sau cuộc chiến.
Hậu duệ của Việt Nam Cộng Hòa đã bị khai tử như Cha Ông của chúng, qua lý lịch cá nhân và gia đình.
  Bạn hiền ơi,
Thật nghiệt ngã cho hậu duệ VNCH phải không.Đảng cộng sản Bắc Việt vẫn còn trong tâm trí hậu duệ VNCH là kẻ thù, cần phải tiêu diệt, phải diệt tận gốc rễ.Nên không ban phát một ân huệ nào cho thành phần này.Nhưng đảng cộng nô đã quên một điều là, những con người này là người Việt Nam chính thống.Sự đối lập nhau trong sự sai biệt của hai ý thức hệ,hai chủ nghĩa "Tự Do+Cộng sản". Chiến tranh ý thức hệ là chuyện rất bình thường,ngay cả trên Thế giới.Nhưng đối với người cộng sản, thì họ vẫn thường rêu rao,ru ngủ :
"Hòa hợp hòa giải Dân tộc", nhưng thật sự tất cả đều trái ngược với lời tuyên bố.
Tất cả là dối trá, lừa bịp để tóm gọn trọn vẹn những Quân Dân cán chính của thể chế Việt Nam Cộng Hòa miền Nam Việt Nam,sau ngày 30/04/1975.
Một nhà tù tức khắc được dựng lên,mang tên "trại Cải tạo", thực chất là tù đày,tẫy não và cái chết, thời hạn tù nhân không hạn định.Lời nói của người cộng sản luôn luôn là dối trá, xảo quyệt, lừa bịp, mị dân đã thể hiện từ khởi đầu của sự đánh cướp chính phủ "Trần Trọng Kim" tại miền Bắc, năm 1945.
Hãy tự biết sự thật vẫn là sự thật,hai giòng máu "Hán+Việt" kể từ sau năm 1954 tại miền Bắc.Quân đội Trung cộng có mặt trong hàng ngũ của bộ đội chính qui của miền Bắc, trong thời gian cuộc chiến xâm lược miền Nam, đúng không???
Và giờ đây, sự nhượng bộ biển đảo, đất đai là chuyện rất bình thường, cái giá phải trả trong những năm tháng cậy nhờ,vay mượn người bạn láng giềng phương Bắc trợ giúp, từ súng ống đạn dược, đến ngay cả thân mạng bộ đội Trung cộng,v.v..., giấy nợ cầm bán để trả nợ.
Nhìn lại, bộ đội miền Bắc không thể nào thực hiện được mộng ước đánh chiếm miền Nam, nếu không nhờ vào bàn tay của Nga sô,Trung cộng và cộng sản Đông Âu.
  Bạn hiền ơi,
Dòng dõi con cháu Vua Hùng thật oai hùng,anh dũng, kiêu hãnh, những Quân nhân chiến sĩ của Việt Nam Cộng Hòa và đồng bào miền Nam, đã anh dũng đương đầu với Thế giới Đại Đồng của cộng sản, không một đồng minh,sau khi đồng minh "Hoa Kỳ"rút khỏi miền Nam Việt Nam năm 1972.
Sự thất bại của Quân lực VNCH ngăn chặn làn sóng đỏ, để bảo vệ Chủ quyền lãnh thổ, để bảo vệ cho một nền "Tự Do Dân Chủ" là chuyện rất bình thường.Đơn độc, anh dũng,hy sinh để chống lại cả một Thế giới cộng sản.Niềm hãnh diện là hậu duệ của Vua Hùng dựng nước Việt.Điều chứng tỏ khả năng chiến đấu chống giặc ngoại xâm và lòng yêu nước cao tột của con Rồng cháu Tiên,4.000 năm dựng nước và giữ gìn non sông bờ cõi.
Đừng bóp méo sự thật lịch sử nữa.Hãy nhìn nhận sự thật.
30 năm dài đăng đẳng, trong công cuộc xâm lược miền Nam, phải đợi 30 năm trôi qua mới thành công trong công cuộc cướp được miền Nam,sau khi Quân đội đồng minh Hoa Kỳ rút khỏi miền Nam Việt Nam năm 1972.Nếu đồng minh Hoa Kỳ của miền Nam không ra đi, liệu phải chờ đợi đến bao lâu mới thành công cướp được miền Nam??? Và con số những người nằm xuống của hai miền Nam Bắc là bao nhiêu???.
Và bây giờ, năm 2019, hiện tình đất nước Việt Nam ra sao, dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản Việt,do quan thầy Trung cộng chỉ đạo???
Một đất nước Việt Nam điêu tàn, lạc hậu, trên mọi lĩnh vực.Băng hoại truyền thống, nét đẹp văn hóa cổ kính 4.000 năm, từ sự băng hoại phong tục tập quán cổ truyền là dấu hiệu của sự sụp đổ hoàn toàn đất Việt,con dân Việt, hình ảnh chữ (S) kiêu hùng ngày nào đã bị xóa bỏ trên bản đồ Thế giới.
Màu mè chi nữa vỡ tuồng Anh đánh Em, Em đánh Anh, phải không người Anh Em hai giòng máu "Hán+Việt". Cây cột chèo còn nguyên bản của nó.

samedi 17 août 2019

Thư cho bạn hiền (ngày 17/08/2019).

Bạn hiền ơi,

Tại sao lại phải nhân danh "Tôn giáo" , để nói lên tiếng nói "Công Lý" ?
Tại sao lại không nhân danh quyền của một người "Công Dân" của một đất nước để cất cao tiếng nói "Công Lý" ?
Nếu dùng quyền "Công Dân "của một con người thì không gì không thành công :
" Tiếng nói của người Dân".
Nếu dùng đến " Tôn giáo "để nói lên tiếng nói " Công Lý ", thì chắc chắn rằng sẽ bị chụp mũ,vu khống, lợi dụng, thì sẽ bị đè bẹp, bị bách hại và bị cấm Đạo.
Và tâm lý chung là, chỉ có những ai theo " Tôn giáo "đó sẽ đứng lên đòi quyền lợi, còn những ai ngoài "Tôn giáo " đó, thì chắc chắn chẳng có người tham dự,tham gia trong công cuộc đấu tranh.Liên tôn "Tôn giáo"cũng vậy.
Không hẳn tất cả "Công Dân"trong một xứ sở, đều có một Tôn giáo riêng cho bản thân mình.
Tùy thuộc ý thức, ý nguyện của Dân, bổn phận và trách nhiệm của mỗi người "Công Dân".
Đương nhiên, trong chế độ cộng sản, một chế độ độc tài, đảng trị, sự đòi hỏi quyền lợi, quyền Tự Do Nhân bản, quyền đa đảng, cho toàn Dân là một điều cực kỳ khó khăn,tám mươi phần trăm là đối diện với thần chết.Nhưng niềm hy vọng hai mươi phần trăm là sự sống trong sự chết, tìm sự sống trong cái chết, với sức mạnh và sự hy sinh của toàn Dân, thì thần chết sẽ bị đẩy lùi vào bóng tối.
Bạn hiền ơi,
Và còn tệ hại hơn nữa, là những con người cộng sản hiện nay, họ không phải thật là người cộng sản của thời kỳ khởi đầu đem ý thức hệ cộng sản vào trong đất nước Việt.Thời kỳ các đảng phái khác nổi dậy, làm cuộc cách mạng chống Thực dân Pháp.Sự lầm lẫn của các đảng phái đối với chủ nghĩa cộng sản, đảng cộng sản Đông Dương trong thời kỳ này, đã đi đến kết quả là các đảng phái yêu nước đã bị tiêu diệt sau đó, bởi bàn tay cộng sản.
Cộng sản đã chỉ điểm cho Thực dân Pháp, những người yêu nước của các đảng phái, để nhờ bàn tay Thực dân Pháp tiêu diệt, thay vì chính họ.Thời kỳ "trăng sáng trăng tỏ", lòng Dân chưa được biết, đâu là bạn, đâu là kẻ thù, đâu là những con người chính nghĩa, và đâu là phi Nhân bản, đâu là yêu nước, và đâu là bán nước.
Và sau cùng, những con người yêu nước sẽ bị tiêu diệt bởi cộng sản, nếu họ từ chối gia nhập Đảng cộng sản.
Hãy nhìn lại lịch sử,sau khi cộng sản cướp chính quyền của chính phủ "Trần Trọng Kim", cuộc thanh trừng các đảng phái còn sót lại và đấu tố các điền chủ, một nỗi đau thương lan tràn trên đất Bắc, màu máu thay thế cho những giọt nước mưa thấm nhuần những mẫu ruộng vườn.
Và giờ đây, bản chất, hình hài, bộ mặt thật của cộng sản Việt đã hiện nguyên hình là tay sai, Thái Thú cho Tàu cộng, và là những con người vô học thức, vô gia đình, vô Tôn giáo, một băng đảng ăn cướp, đã đào tạo cả một thế hệ ăn cướp như họ.
Hãy nhìn,sau 44 năm của miền Nam, hơn 70 năm tại miền Bắc, tệ nạn xã hội, từ học đường ra đến xã hội,gia đình và Tôn giáo.
Đạo lý, luân thường đảo lộn.Chất độc ma túy đã thấm sâu vào tận xương tủy giới trẻ.Tình người không còn.Tình yêu Tổ Quốc đã chìm sâu từ 80 năm qua, dưới sự cai trị của đảng cộng sản Việt.
Chủ nghĩa cá nhân đã lên ngôi trong xứ Việt.Sau chủ nghĩa cộng sản.
Bạn hiền ơi,
Tôn giáo không phải là tuyệt đối "Tối cao" trong một xứ sở, trong một đất nước Vô Thần nói riêng và Thế giới Tự Do nói chung.
Tiếng nói của người Dân là "Tuyệt đối Tối cao"trong một đất nước "Vô Thần"nói riêng, và Thế giới Tự Do nói riêng, và con người trên trái đất này, những sinh vật sống nói chung.
Tối cao của "Tôn giáo"là tình thương, tình yêu, giữa người với người, người với loài cầm thú,cỏ cây trên trái đất này.
Nếu thể hiện được "Tình đồng loại", thương người như thể thương thân thì mới kết hợp được với Đấng mà mình Tôn thờ.
Chưa nói đến tình yêu nước, bảo vệ chủng tộc, bảo vệ đồng loại, bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường, mảnh đất hiện hữu sự sống.
Thật đau buồn,đau buồn mà nói, có bao nhiêu Tín đồ Tôn giáo thực thi, thể hiện lời "Đấng Giáo chủ" đã dạy bảo???
Ngay cả những vị lãnh đạo Tôn giáo???
Vậy có phải "Tôn giáo"có phải là tuyệt đối Tối cao trên quả hành tinh này không???
Tiếng nói con người là tuyệt đối Tối cao, thể hiện qua hình ảnh của Đấng Tối cao của Tôn giáo.
Bạn hiền ơi,
Sự hy sinh làm nên lịch sử, chứng minh cho :(Tình yêu thương đồng loại chủng tộc), để thấy lời nhiệm mầu của các Đấng Tôn giáo.
Thật sự hiện hữu trên trái đất này, nên thật sự có "niềm tin" vào lời dạy của các Ngài.
"Lý thuyết không thực hành"chỉ là ảo tưởng,sanh ra bệnh tâm thần, những cái xác không hồn, biết đi, đứng, nằm, ngồi.
Bạn hiền ơi,
Nhờ vào Tôn giáo, tội lỗi, tội ác giảm đi rất nhiều, không lan tràn trên khắp địa cầu này.Nhưng không vì thế mà dừng lại khi trực diện với tệ nạn xã hội lan tràn,do cơ cấu điều hành sai lầm của nguồn máy của chính quyền cai trị.
Nếu không lên tiếng nói, tội lỗi, tội ác, ngày càng bành trướng, lớn mạnh, họa tiêu diệt cả một đất nước sẽ hình thành, lúc ấy, sự ăn năn hối hận đã muộn màng.
Tất cả sẽ bị tiêu diệt,con người không còn thì Tôn giáo cũng không còn.Có con người thì có Tôn giáo.Cái này có thì cái kia có.
Cái này không thì cái kia không.Tất cả đều có liên quan với nhau.Không có cái gì tồn tại độc lập trên trái đất này.Tất cả đều phải nương vào nhau để mà sinh tồn.
Tại sao biết rất rõ loài thú hoang dã, mà con người lại tự nhốt " Trí tuệ của mình" vào chuồng,thay vì nhốt loài thú hoang dã mang hình hài người???
Tôn giáo là "Trí tuệ" tối cao của Thượng đế.
Trí tuệ của Thượng đế có đặt đúng vị trí của Ngài không???
Tại sao, chúng ta biết mình "Vô minh", không sáng suốt???
Nếu đã biết mình "Vô minh", thì lấy cái gì để nói mình "Vô minh", để biết mình "Vô minh"???
Khi đã biết mình "Vô minh", thì chắc chắn không hẳn là "Vô minh".
Hàng ngàn, hàng vạn lý do để biện minh cho sự gian dối,dối trá, xảo quyệt, yếu hèn, bạc nhược,tham đắm hưởng thụ bã vật chất, nuôi dưỡng lòng tham lam vô cùng tận, và nỗi sợ hãi của mình.
Sợ hãi khi bị đánh mất tất cả.Mất thân mạng là mất tất cả.
Sự khôn ngoan sáng láng như các Đấng Tôn giáo ở đâu,đi đâu, về đâu???
Sự kiên nhẫn,kham nhẫn, chịu đựng, đến khi nào???
Đời mình, kéo lê sang đời con, cháu,chắt, chít???
Và sau cùng, dòng giống Việt không còn??
Hay là, vẫn còn ảo tưởng ta hưởng được nước Trời (Thiên Đàng),hay cõi "Cực Lạc", hay vào "Niết Bàn"???
Phải chăng, tự mình xây dựng cho chính mình một cõi vọng tưởng, để tự an ủi lấy chính mình,thu mình trong vỏ sò,co đầu rút cổ như loài rùa???
Tận cùng, cùng cực của những sự bất công, bạo quyền, chết chóc hiện hữu, được tồn tại qua những con người nhân danh bốn chữ "Từ Bi_Bác Ái", "Văn Nhân, Nhân Bản", những từ ngữ thật đẹp,kiêu sa tựa như giọt sương rơi, tựa bọt nước bong bóng của những giọt nước mưa.
Hãy đừng tự vỗ ngực và tụng đọc :
(Mea Culpa,Mea Culpa,Mea maxima culpa
Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng).
    Tất cả quá muộn màng rồi.

dimanche 11 août 2019

Triều đại nhà Nguyễn (1802-1945)

  1/Vua Gia Long.
Năm sinh, năm mất (1762-1820)
Giai đoạn trị vì (1802-1820)
Miếu hiệu : Thế Tổ Cao Hoàng Đế.
Thời Trịnh Nguyễn phân tranh, năm Ất Dậu (1765).

  2/Hoàng Tử Cảnh.
Sinh 02/03-năm Canh Tý.
(06/04/1780) tại Gia Định.
Con của Nguyễn Ánh và bà Tống Thị Lan
Mất ngày 07/02-năm Tân Dậu.
(20/03/1801)thọ 22 tuổi.
Có hai người con trai :
1/Nguyễn Phúc Mỹ Đường.
2/Nguyễn Phúc Mỹ Thùy.
Ông Kỳ Ngoại Hầu (Cường Để), là cháu năm đời của Hoàng Tử Cảnh.

  3/Minh Mạng (1791-1840).
Giai đoạn trị vì (1820-1840).
Miếu hiệu : Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế.
Tên húy : Nguyễn Phúc Kiểu_Nguyễn Phúc Đảm.
Vua Minh Mạng tên là Nguyễn Phúc Đảm, sanh năm Tân Hợi (1791), tại làng Tân Lộc tỉnh Gia Định,con thứ tư của Vua Gia Long và bà Thuận Thiên Trần.

  4/Thiệu Trị
Năm sinh và mất :(1807-1847).
Trị vì (1841-1847).
Miếu hiệu : Hiến Tổ Chương Hoàng Đế.
Tên húy : Nguyễn Phúc Tuyền_Nguyễn Phúc Miên Tông.
  (Cấm Đạo Thiên Chúa).

  5/Tự Đức.
Năm sinh và mất :(1829-1883).
Trị vì :(1847-1883).
Miếu hiệu : Dục Tống Anh Hoàng Đế.
Tên húy : Nguyễn Phúc Thi_Nguyễn Phúc Hồng Nhậm.

  6/Dục Đức.
Năm sinh và mất :(1853-1883).
Trị vì :(1883).
Miếu hiệu : Công Tông Huệ Hoàng Đế.
Tên húy : Nguyễn Phúc Ưng Chân.

  7/Vua Hiệp Hòa.
Năm sinh và mất :(1847-1883).
Trị vì :(1883).
Tên húy : Nguyễn Phúc Thăng_Nguyễn Phúc Hường.

  8/Kiến Phúc.
Năm sinh và mất :(1969-1884).
Trị vì :(1884).
Miếu hiệu : Giảng Tông Nghị Hoàng Đế.
Tên húy : Nguyễn Phúc Hạo_Nguyễn Phúc Ưng Đăng.
Ông Dường Thiện tên là Ưng Đăng, là con nuôi thứ 3 của Vua Tự Đức, lên ngôi Vua, lấy niên hiệu là Kiến Phúc.

  9/Hàm Nghi.
Năm sinh và mất :(1871-1943).
Trị vì :(1884-1885).
Tên húy : Nguyễn Phúc Minh_Nguyễn Phúc Ưng Lịch.
Hai ông Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết tự lập em ruột của ông Chánh Mông lên làm Vua, vì ông Chánh Mông lớn tuổi,sợ mất quyền hành, nên lập Ưng Lịch, lúc ấy mới 12 tuổi, đặt niên hiệu là Hàm Nghi.

  10/Đồng Khánh.
Năm sinh và mất :(1864-1889).
Trị vì :(1885-1889).
Miếu hiệu : Cảnh Tông Thuần Hoàng Đế.
Tên húy : Nguyễn Phúc Biện_Nguyễn Phúc Chánh Mông.

  11/Thành Thái.
Năm sinh và mất :(1879-1954).
Trị vì :(1889-1907).
Miếu hiệu : Hoài Trạch Công Hoàng Đế.
Tên húy : Nguyễn Phúc Chiêu_Nguyễn Phúc Bửu Lân.

  12/Duy Tân.
Năm sinh và mất :(1900-1945).
Trị vì :(1907-1916).
Tên húy : Nguyễn Phúc Hoảng_Nguyễn Phúc Vĩnh San.

  13/Khải Định.
Năm sinh và mất :(1885-1933).
Trị vì :(1916-1925).
Miếu hiệu : Hoằng Tông Tuyên Hoàng Đế.
Tên húy : Nguyễn Phúc Tuấn_Nguyễn Phúc Bửu Đảo.

  14/Bảo Đại.
Năm sinh và mất :(1913-1997).
Trị vì :(1925-1945).
Tên húy : Nguyễn Phúc Thiển_Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy.
Tháng 3/1945, Nhật đánh úp Pháp, muốn giúp Việt Nam dành Độc lập.
Ngày 11/03/1945, viện cơ mật của Triều đình Huế tuyên bố Việt Nam dành lại chủ quyền, bãi bỏ hiệp ước bảo hộ 1884.
Ngày 17/03/1945,Vua Bảo Đại giải tán hội đồng cơ mật (lập tự thời Minh Mạng), và giao cho ông Trần Trọng Kim thành lập Nội Các mới,theo nguyên tắc "Dân Vi Quý", trong thành phần Nội Các, phần lớn là các nhà Tây học như (Hoàng Xuân Hãn....).
Nhưng từ khi thành lập Nội Các, ông Trần Trọng Kim chẳng làm gì được cả, vì quyền hành đều nằm trong tay của Nhật.
Ngày 19/08/1945, Việt Minh cướp chính quyền ở ngoài Bắc.
Ngày 24/08/1945, nhận được một bức diễn văn của :"Ủy ban Nhân Dân cách mạng từ Bắc, yêu cầu Vua thoái vị".
Sau khi biết Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc, thì Vua Bảo Đại mới thốt ra câu bằng tiếng Pháp :"Ça vaut bien le coup", nghĩa là :(Như thế thì cũng đáng thoái vị).
Ngày 25/08/1945,Vua Bảo Đại cho công bố chiếu thoái vị.
Ngày 30/08/1945, đại diện chính phủ lâm thời :1/Ông Trần Huy Liệu
         2/Ông Nguyễn Lương Bằng
         3/Ông Cù Huy Cận
Nhận ấn kiếm của nhà Vua tại cửa Ngọ Môn (Huế).
Vua Bảo Đại được phong chức Cố vấn Tối cao cho chính quyền mới.
Triều đại nhà Nguyễn chấm dứt sau 143 năm Trị vì (1802-1945).
Hiệp ước Hạ Long ngày 05/06/1948.
  Tới năm 1954,sau hội nghị(Genève)chia đôi nước Việt Nam từ vĩ tuyến thứ 17, cựu Hoàng Bảo Đại mời ông Ngô Đình Diệm làm Thủ Tướng ở Sàigòn.
Cuối năm 1955, các viên chức Hoa Kỳ ở Sàigòn giúp ông Ngô Đình Diệm tổ chức "Trưng cầu Dân ý" để lật đổ cựu Hoàng Bảo Đại và Tôn Ông Diệm lên làm Tổng Thống.
Cựu Hoàng Bảo Đại mất tại Paris (France) tháng 07/1997.

Bài được ghi chép lại.Còn rất nhiều điều thiếu sót,mong thông cảm.

samedi 10 août 2019

Dân Tộc Việt Nam qua Thời đại và những chiến công hiển hách với người Trung Quốc.

(Trích từ bản tin tháng 01/2019 của Chùa Khánh Anh, Pháp Quốc).

1/ Hồng Bàng và Văn Lang.
Theo truyền thuyết thì Thủy Tổ dân tộc Việt Nam là "Kinh Dương Vương", hiện có mộ tại làng "An Lữ, Bắc Ninh".
Kinh Dương Vương làm Vua vào khoảng năm Nhâm Tuất (2000 năm trước Tây lịch)
Kinh Dương Vương lấy con gái "Thần Nông là Vua Động Đình",sinh một con trai tên là "Sùng Lãm",sau nối ngôi Vua Cha niên hiệu "Lạc Long Quân".
Lạc Long Quân lấy con gái "Đế Lai" là "Âu Cơ",sinh ra một trăm trứng, một trăm trứng nở ra một trăm con là "Tổ Tiên" của "Bách Việt". Một hôm, nhà Vua bảo Bà Âu Cơ :"Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, thủy hỏa khác nhau,chung hợp thật khó".
Bèn từ biệt,chia năm chục con theo Mẹ lên núi, năm chục con theo Cha về phía Nam miền Biển và phong cho con trưởng là "Hùng Vương" nối ngôi.
Hùng Vương lên ngôi Vua, đặt Quốc hiệu là "Văn Lang", đóng đô ở Phong Châu (Bạch Hạc,Phú Thọ).Chia nước ra làm 15 bộ.Nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng là nhà nước phôi thai đầu tiên của Việt Nam, còn rất đơn giản, mặc dù mới hình thành nhưng đã cố kết được lòng người.
Từ tình cảm cộng đồng , dẫn đến ý thức cộng đồng, thể hiện rõ tình đồng bào ruột thịt.Họ, bắt đầu hiểu được mối quan hệ, giữa thiên nhiên và con người, thấy được sức mạnh của cộng đồng, trong việc làm thủy lợi,trao đổi sản phẩm, và đấu tranh giữ gìn bản làng, đất nước.

2/Thời kỳ Nhà Thục:
"Thục Phán" thủ lĩnh của người "Âu Việt" 
(phía Bắc nước Văn Lang), hợp nhất với nước Văn Lang của người Lạc Việt, xưng là "An Dương Vương", đặt Quốc hiệu là nước "Âu Lạc", đóng đô tại "Cổ Loa"(Đông Anh, Hà Nội).
Năm 218 trước Tây lịch,"Tần Thủy Hoàng" huy động 50 vạn quân,chia làm 5 đạo,đi chinh phục "Bách Việt".
Chỉ huy đạo quân Tần là viên tướng lừng danh "Đồ Thư". Các Lạc tướng đã suy tôn Thục Phán là lãnh tụ chung, để chỉ huy kháng chiến chống quân Tần.Người Việt làm chiến tranh du kích, vườn không, nhà trống, bền bỉ kháng chiến suốt 10 năm, đợi khi quân Tần lâm vào tình trạng mệt mỏi,chán nản, khổ sở vì thiếu lương thực và ốm đau nhiều vì không hợp thủy thổ, lúc đó Thục Phán mới tổ chức phản công quân Tần,bắn chết Đồ Thư.Mất tướng chỉ huy, quân Tần mở đường máu tháo chạy về nước.
Sau chiến công vĩ đại đánh thắng 50 vạn quân Tần, An Dương Vương tổ chức xây thành "Cố Loa". Thành có 9 vòng,chu vi vòng ngoài 8km, vòng giữa 6,5km, vòng trong cùng 1,6km.Với vị trí thuận lợi, với bố trí thành có 9 lớp, xoáy trôn ốc, thành cao, hào sâu, có các ụ cao khô vượt ra ngoài lũy để có thể từ cao bắn xuống, với vũ khí nỏ thần và những mũi tên đồng lợi hại, sức mạnh quân sự tổng hợp của thành "Cổ Loa" làm cho quân thù khiếp sợ thể hiện trí tuệ quân sự tuyệt vời của Tổ Tiên ta.Ở ngoài thành Hà Nội ngày nay, vẫn còn thấy dấu tích 3 lớp thành Cổ Loa thời An Dương Vương.
3/ Thời kỳ Thuộc Tây Hán;
   Bắc thuộc lần thứ 1.
Tân Mùi (110 trước Tây lịch)(Hán Nguyên Phong năm thứ 1).
Nước Việt ta đã thuộc về nhà Hán; Nhà Hán cho Thạch Đái làm Thái Thú 9 quận.
Chế độ nhà Hán lấy châu lãnh quận, trừ hai quận Châu Nhai,Đạm Nhỉ đều ở giữa biển, còn 7 quận thuộc về Giao Châu.
Thạch Đái làm châu Thái Thú 63.Thời Tây Hán, trụ sở của Thái Thú đặt tại Long Uyên, tức Long Biên, thời Đông Hán đặt tại Mê Linh tức là Yên Lăng.
4/Thời kỳ Triệu Vũ Vương Triệu Đà.
Họ Triệu nhân lúc nhà Tần suy loạn, giết tướng nhà Tần, chiếm giữ đất Lĩnh Nam, xưng đế, đòi ngang hàng với nhà Hán, hưởng nước truyền ngôi 100 năm mới mất cũng là bậc Vua Anh Hùng.
Họ Triệu, tên húy là Đà, người huyện Châu Định nước Hán, đóng đô ở Phiên Ngung (nay ở tỉnh Quảng Đông). Giáp Ngọ, năm thứ 1 (207 trước Tây lịch).(Tần Nhị Thế năm thứ 3),Vua chiếm lấy Lâm Ấp và Tượng Quận, tự lập là Nam Việt Vương.
  5/Thời kỳ Hai Bà Trưng.
Trưng Vương tên húy là Trắc, họ Trưng.
Nguyên là họ Lạc,con gái Lạc tướng huyện Mê Linh,Phong Châu, vợ của Thi Sách ở huyện Châu Diên.(Thi Sách cũng là con Lạc tướng,con hai nhà tướng kết hôn với nhau.Sách Cương Mục Tập Lãm lấy Lạc làm họ là Lầm).
Canh Tý, năm thứ 1 (năm 40),(Hán Kiến Vũ năm thứ 16). Mùa xuân, tháng 2 Vua khổ vì Thái Thú Tô Định dùng luật pháp trói buộc, lại thù Định giết chồng mình.
Trưng Trắc mới cùng Em gái là Nhị, nổi binh đánh hảm trụ sở ở Châu.Tô Định phải chạy về nước.Các quận Nam Hải,Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng lấy được 65 thành ở Lĩnh Nam, tự lập làm Vua, mới xưng là họ Trưng.
6/Thời kỳ Thuộc Đông Hán.
   Bắc Thuộc lần thứ 2.
Quý Mão,(Trưng Vương năm thứ 4)(Hán Kiến Vũ năm thứ 19).
Mùa xuân, tháng giêng, Trưng Nữ Vương cùng em gái là Nhị chống cự lại với quân nhà Hán, thế cô, đều thua chết.
Mã Viện bèn dựng cột đồng, làm giới hạn cuối cùng của nhà Hán.(Cột đồng tương truyền ở trên động Cổ Lâu châu Khâm Viện có câu thề :"Cột đồng gãy thì Giao Châu diệt".
Người Việt ta, đi qua dưới cột ấy, thường lấy đá chất vào, thành như gò đống, vì sợ cột ấy gãy.
Mã Tông nhà Đường lại dựng hai cột đồng ở chỗ cũ của nhà Hán, ghi công đức của Mã Viện để tỏ ra mình là dòng dõi Phục Ba,nay chưa rõ chỗ nào.Hai sông Tà Giang Hữu Giang mỗi nơi có một cột).
Nước Việt ta lại thuộc nhà Hán.Ba năm sau,Mã Viện trở về.
Người địa phương thương mến Trưng Nữ Vương, làm đền thờ phụng,(đền ở xã Hát Giang, huyện Phúc Lộc, ở đất cũ thành Phiên Ngung cũng có).
Tuy cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng không thành công như ý định, nhưng cũng đã nói lên được tin thần tự chủ của Dân Việt dưới thời Bắc thuộc lần thứ nhất với Trung Hoa.
7/Thời kỳ Lý Nam Đế - Lý Bí.
Lý Bôn tức Lý Bí, quê ở Long Hưng (Thái Bình),sinh ngày 12/09/năm Quý Mùi (17/10/503), là con trưởng Lý Toản,5 tuổi bố mất,7 tuổi mẹ mất, phải ở với Chú ruột.
Vị Pháp Tổ Thiền Sư thấy khôi ngô tuấn tú xin làm con nuôi, đưa về Chùa Linh Bảo nuôi dạy.Hơn 10 năm đèn sách chuyên cần, lại được vị Thiền Sư hết lòng dạy bảo, Lý Bí trở thành người học rộng hiểu sâu, ít người sánh kịp.Nhờ có tài kiêm văn võ,
Lý Bí được tôn làm thủ lĩnh địa phương.
Thấy nhân dân ta vô cùng thống khổ dưới sự đô hộ tàn ác của Tiêu Tư.
Tháng 1 năm 542, Lý Bí lãnh đạo nhân dân khởi binh tấn công quân Lương.Thứ sử Tiêu Tư khiếp sợ bỏ chạy về nước.Chưa đầy 3 tháng, Lý Bí đã chiếm được hầu hết các quận huyện và thành Long Biên.
Nhà Lương sai tướng đem quân sang phản công chiếm lại.Lý Bí đã cho quân mai phục đánh tan bọn xâm lược.
Đầu năm 543,Vua Lương lại huy động binh mã sang xâm lược nước ta một lần nữa.
Lý Bí chủ động đem quân đón đánh giặc ở bán đảo Hợp Phố, quân Lương bị tiêu diệt gần hết.
Tháng Hai năm Giáp Tý 544, Lý Bí lên ngôi Hoàng Đế, lấy hiệu là Lý Nam Đế.Đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên.
  8/Thời kỳ Triệu Việt Vương -
          Triệu Quang Phục :
Triệu Quang Phục là con Triệu Túc,Tù trưởng ở Chu Diên (Hưng Yên). Khi được Lý Nam Đế trao truyền lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Lương, ông đưa quân về Dạ Trạch (bãi Màn Trò, Hưng Yên) là một vùng đồng lầy rộng mênh mông,lau sậy um tùm, ở giữa có một bãi đất cao khô ráo để đóng quân.Ông cho quân lính vừa sản xuất lương thực, vừa tiếp tục cuộc kháng chiến lâu dài.Đêm đêm, nghĩa quân kéo ra đánh các đồn địch, làm cho lương thực địch bị tiêu hao và mất ăn mất ngủ.
Ngày 13/4/548, Triệu Quang Phục lên ngôi Vua, xưng là Triệu Việt Vương, dân giang gọi Ông là Dạ Trạch Vương.
Năm 550, từ căn cứ Dạ Trạch, Ông tiến quân ra đánh giết được tướng giặc là Dương San,thu lại được thành Long Biên.
   9/Thời kỳ thuộc Tùy -Bắc Thuộc lần thứ 3.
  Năm 602, nhà Tùy sai Lưu Phương đem quân 27 dinh sang đánh nước Vạn Xuân.
Vua đời thứ 3 của Vạn Xuân là Lý Phật Tử sợ giặc và đầu hàng, bị bắt sang Trung Hoa.Việt Nam vào thời Bắc thuộc lần thứ 3 mà trước hết là thuộc Tùy.Thời đó, Việt Nam bị xếp làm một Châu của nhà Tùy, gọi là Giao Châu.
10/Thời kỳ Thuộc Đường :
Lý Uyên lên ngôi Đường Cao Tổ trị vì Trung Hoa.
  Năm 671, nhà Đường chia đất Giao Châu thành 12 Châu,59 huyện và gọi nước ta là " An Nam Đô Hộ Phủ".
Nhà Đường dùng chính sách tàn bạo,hà khắc để cai trị nhân dân ta, chúng muốn đồng hóa nhân dân ta bằng chính sách   "Sát phu, giết phụ".
Nhưng với chí quật cường của một dân tộc anh hùng, nhân dân ta đã có nhiều cuộc nỗi dậy chống lại kẻ thù xâm lược như các cuộc khởi nghĩa của Lý Tự Tiên, Đinh Kiến (687),Mai Thúc Loan (722), Phùng Hưng (766-791), Dương Thanh (819-820).
Thuộc Ngũ Đại -Bắc thuộc lần thứ 3 -Ngũ Đại Thập Quốc là một thời kỳ trong lịch sử Trung Quốc, bắt đầu từ khi triều Đường diệt vong, kéo dài đến khi triều Tống thống nhất Trung Hoa bản thổ.
      11/Thời kỳ tự chủ.
Dương Đình Nghệ (931-938), người Ái Châu (Thanh Hóa), là tướng của họ Khúc đã khởi nghĩa đánh đuổi Lý Khắc Chính và Lý Tiến, giải phóng thành Đại La (Hà Nội), xưng là Tiết Độ Sứ vào năm 931.
Khúc Thừa Dụ (905-907) quê ở Cúc Bồ (Ninh Bình-Hải Dương) người khoan hòa, được nhân dân kính phục.Thấy nhân dân ta vô cùng khốn khổ dưới ách đô hộ của nhà Đường, Ông khởi binh tiến công thành Tống Binh (Hà Nội), đuổi giặc về nước, tự xưng là Tiết Độ Sứ.Thế cùng, nhà Đường buộc phải công nhận Khúc Thừa Dụ là người đứng đầu đất Việt.
  12/Thời kỳ Tiền Ngô Vương-Ngô Quyền.
Ngô Quyền sinh ngày 12/3 năm Đinh Tỵ (năm 897) ở Đường Lâm (thuộc huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây ngày nay).Cha là Ngô Mân một hào trưởng có tài đức.Ngô Quyền thông minh, khôi ngô, mắt sáng.Ngô Quyền cai quản đất Ái Châu (Thanh Hóa).
Kể từ thời Ngô Quyền, dân tộc Việt Nam chúng ta chính thức giành lại Độc lập tự chủ từ người Trung Quốc.
Chấm dứt 1.000 năm Bắc thuộc.
13/Dương Bình Vương-Dương Vương Tam Kha.
  Ngô Quyền làm Vua được 5 năm (939-944) thì mất,thọ 48 tuổi,em vợ là Dương Tam Kha cướp ngôi, tự lập làm Vua là Dương Bình Vương (944-950).
Di tích lịch sử Bạch Đằng Giang (thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng), gắn liền với 3 trận thủy chiến nổi tiếng trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta, đó là năm 938 Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán, năm 981 Lê Hoàn đánh tan quân Tống và năm 1288 Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đánh tan quân Nguyên Mông.
  14/Thời kỳ Lê Đại Hành (980-1005).
Khi Cha con Đinh Tiên Hoàng bị Đổ Thích giết hại,Đinh Toàn mới 6 tuổi lên ngôi.
Nhân cơ hội đó, nhà Tống cho quân sang xâm lược nước ta.Vì lợi ích của dân tộc, Thái hậu Dương Vân Nga đã trao ngôi Vua cho Lê Hoàn.
Lê Hoàn lên ngôi Vua, lấy niên hiệu là Lê Đại Hành.Vẫn lấy tên nước là "Đại Cồ Việt" đóng đô tại Hoa Lư.
Mùa xuân năm 981, dưới sự lãnh đạo của Lê Đại Hành, quân dân Đại Cồ Việt đã ghi thêm vào trang sử hào hùng chống giặc ngoại xâm chiến công sáng chói.Đó là chiến thắng quân Tống tại sông Bạch Đằng lần thứ hai.
  15/Thời kỳ Lý Thái Tổ-Lý Công Uẩn.
Lý Thái Tổ (1010-1028), Lý Công Uẩn người Cổ Pháp (Từ Sơn-Bắc Ninh). Mẹ họ Phạm,sinh ngày 12/2 năm Giáp Tuất (974)
Mẹ chết khi mới sinh.Thiền sư Lý Khánh Vân nhận làm con nuôi.Lý Công Uẩn thông minh và có chí khí khác người ngay từ nhỏ.Nhờ sự nuôi dạy của nhà sư Lý Khánh Vân và Lý Vạn Hạnh, Lý Công Uẩn trở thành xuất chúng, văn võ kiêm toàn, làm đến chức Điện Tiền Chỉ Huy Sứ.
Khi Lê Ngọa Triều mất, triều thần tôn Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng Đế, niên hiệu Thuận Thiên, vẫn lấy Quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô Hoa Lư.Tháng 7 năm 1010, Vua Lý Thái Tổ cho dời đô về thành Đại La.
Một buổi sáng đẹp trời, thuyền vừa cập bến, Nhà Vua thấy rồng bay lên,do đó, đặt tên Kinh đô Thăng Long (tức Hà Nội ngày nay).
  16/Thời kỳ Lý Thường Kiệt.
Lý Thường Kiệt (1019-1105) là nhà quân sự, nhà chính trị thời nhà Lý, nước Đại Việt.
Làm quan 3 triều Vua Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, và Lý Nhân Tông.Ông nổi bật với việc chinh phạt Chiêm Thành (1069), đánh phá 3 châu Khâm,Ung,Liêm nước Tống (1075-1076), rồi đánh bại cuộc xâm lược Đại Việt của quân Tống,do Quách Quỳ, Triệu Tiết chỉ huy (1077). Ông đã làm Tể tướng hai lần dưới thời Lý Nhân Tông, và là một trong 3 người phụ chính khi Vua này còn nhỏ tuổi.
Nam Quốc Sơn Hà là bài thơ chưa rõ nguồn gốc tác giả, mà nhiều tài liệu dân gian cho là của Ông,đang đêm sai người tâm phúc đọc vang trong đền thờ Trương Hồng,Trương Hát (thuộc địa phận sông Như Nguyệt, khúc sông Cầu, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh).
Bài thơ như một bản tuyên ngôn Độc lập hùng tráng đầu tiên trong lịch sử Dân tộc, để cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân Đại Việt chống lại quân Tống lần thứ 2.
               Nam Quốc Sơn Hà.
  Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại Thiên Thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
      Sông núi nước Nam.
Sông núi nước Nam,Vua Nam ở,
Rành rành định phận tại sách Trời.
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?
Chúng bây sẽ bị đánh tơi bời.
    17/Thời kỳ Trần Thái Tông
              -Trần Cảnh
Trần Thái Tông (1225-1258),sinh ngày
16//6 năm Mậu Dần-1218.
Con thứ của ông Trần Thừa và bà họ Lê.
Tổ tiên nhà Trần là Trần Kính, vốn gốc ở Đông Triều (Quảng Ninh), chuyên nghề đánh cá, đến ở làng Tức Mạc, phủ Thiên Trường (nay xã Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định).
Sinh ra Trần Hấp, Trần Hấp sinh Trần Lý, Trần Lý sinh ra Trần Thừa, Trần Tự Khánh, và Trần Thị Dung.
Trần Thủ Độ là cháu họ, được Trần Lý nuôi nấng từ nhỏ coi như con.
Trần Thừa sinh ra Trần Liễu và Trần Cảnh là con trai sau đó mối tình với cô thôn nữ ở thôn Bà Liệt tên là Tần, sinh ra Trần Bá Liệt.
Dưới sự đạo diễn của Trần Thủ Độ, lúc đó là Điện Tiền Chỉ Huy Sứ, ngày 21/10 năm Ất Dậu-1225.
Lý Chiêu Hoàng xuống chiếu nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, ngày 11/12 năm Ất Dậu-1225.
Trần Cảnh chính thức lên ngôi Hoàng Đế, đổi niên hiệu là Kiên Trung,phong Lý Chiêu Hoàng là Chiêu Thánh Hoàng Hậu,phong Trần Thủ Độ là Thái Sư thống quốc hành quân vụ chính thảo sự.
Trần Quang Đế (1409-1414). Trần Quý Khoáng là con thứ của Mẫn Vương Ngạc cháu nội Vua Trần Nghệ Tông, gọi Giản Định Đế bằng Chú ruột.Đặng Dung là con Quốc Công Đặng Ất.Nguyên Cảnh Dị là con Tham mưu quân sự Nguyễn Cảnh Chân căm giận vì Cha bị giết oan, mới đem quân Thuận Hóa về Thanh Hóa đón Trần Quý Khoáng đến Nghệ An làm Vua Trùng Quang để lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Minh.
Tháng 4 năm Giáp Ngọ-1414,do quân ít không thể chống lại được với quân Minh, Trương Phụ, Mộc Thạch cho quân bao vây đã bắt được Trùng Quang Đế,Đặng Dung, Nguyễn Súy giải về Trung Quốc.
Trên đường đi,Vua tôi nhà Hậu Trần đã nhảy xuống biển tự tử để tỏ rõ khí phách, nhà Hậu Trần chấm dứt từ đó.
   18/Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ 4.
Năm Giáp Ngọ (1414)(Minh Vĩnh Lạc năm thứ 12).
Hồ Hán Thư (1401-1407). Cũng như nhà Trần, ngày 12/01/1401, Hồ Quý Ly nhường ngôi cho con thứ hai là Hồ Hán Thương, còn mình thì tự xưng là Thái Thượng Hoàng cùng coi chính sự.
Nhà Minh lấy cớ Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần,đem quân sang đánh chiếm nước ta.
Ngày 20/01/1407, quân Minh hạ thành Đa Bang (Ba Vì).Bố con Hồ Quý Ly bỏ chạy vào Thanh Hóa, đến ngày 17/06/1407, quân Minh bắt được Hồ Quý Ly, Thái Ất nước ta lại bị nhà Minh đô hộ, với một chính sách vô cùng hà khắc.Chúng vơ vét của cải,hãm hiếp đàn bà,con gái, giết đàn ông và thiến hoạn nhiều con trai nhỏ tuổi, để mong đồng hóa dân ta.
   19/Thời kỳ Lê Thái Tổ
       -Lê Lợi nhà hậu Lê.
Lê Thái Tổ (1428-1433),sinh ngày 06/08 năm Ất Sửu-10/09/1385, là con trai thứ 3 của ông Lê Khoáng và bà Trần Thị Thương người ở hương Lam Sơn, huyện Hương Giang, trấn Thanh Hóa.Ngay từ khi còn trẻ, Lê Lợi đã tỏ ra người thông minh, dũng lược, đức độ hơn người,dáng người hùng vĩ, mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, trên vai phải có nốt ruồi đỏ lớn.Tiếng nói như chuông, bậc thức giả biết ngay là người phi thường.Lớn lên, ông làm chức phụ đạo ở Khả Lam, ông chăm chỉ dùi mài đọc sách và binh pháp, nghiền ngẫm thao lược, tìm tới những người mưu trí, chiêu tập dân lưu tán, hăng hái dấy nghĩa binh mong chờ loạn lớn.
Mùa xuân năm Mậu Tuất-1418, Lê Lợi đã cùng những hào kiệt đồng chí hướng như Nguyễn Trãi,Tần Nguyên Hãn, Lê Văn An, Lê Văn Linh, Bùi Quốc Hưng, Lưu Nhân Chú, Lê Lai,v.v...phất cờ khởi nghĩa Lam Sơn, xưng là Bình Định Vương, kêu gọi nhân dân đồng lòng đứng lên đánh giặc cứu nước.Suốt 10 năm, nằm gai nếm mật, vào sinh ra tử, Lê Lợi đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Minh thắng lợi.
20/Thời kỳ đại phá quân Mãn Thanh :
Cuối năm 1788,Vua Thanh đương thời là Càn Long sai Tổng Đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị chỉ huy 29 vạn quân,huy động từ Lưỡng Quảng, Vân Nam và Quý Châu hộ tống Lê Chiêu Thống về Việt Nam, với danh nghĩa phù Lê, vào chiếm đóng Thăng Long.
_Thời kỳ Vua Quang Trung Thống Nhất Sơn Hà và Dựng Nước.(1886-1892).
Sau cái chết của Nguyễn Văn Duệ và sau đó là Vũ Văn Nhậm và diễn biến chiến trường Nam Việt,Vua Thái Đức (Nguyễn Nhạc) đã tỏ ra buông xuôi.Không thể kềm chế người Em tài ba hơn mình.Cuối năm 1788, ông từ bỏ Đế hiệu và niên hiệu Thái Đức, chỉ xưng là Tây Sơn Vương.
Ông viết thư cho Nguyễn Huệ, chỉ xin giữ Qui Nhơn và nhường toàn bộ binh quyền, đất đai trong cả nước cho Vua Em.
Đồng thời, ông cầu khẩn Nguyễn Huệ mang đại binh vào cứu Nam Việt.Tuy nhiên, lúc đó, Nguyễn Huệ dù biết lời cầu khẩn của Anh, nhưng không thể vào Nam tham chiến vì 20 vạn quân Thanh do Lê Chiêu Thống rước về, đã vượt qua biên giới phía Bắc.Nguy cơ phía Bắc rõ ràng lớn và gấp hơn, nên Nguyễn Huệ đã lên ngôi Hoàng Đế, lấy hiệu Quang Trung, rồi kéo quân ra Bắc, và đã nhanh chóng đánh bại quân Thanh.
Sau khi đánh bại quân Thanh,Quang Trung trở thành nhà lãnh đạo tối cao của Triều Tây Sơn và là vị Hoàng Đế duy nhất cai trị tại Việt Nam.(1789).
     21/Thời kỳ cộng sản.
Năm 1974-quân Trung cộng đánh cướp đảo Hoàng Sa Việt Nam.
(Thời kỳ cộng sản tại miền Nam Việt Nam là sau ngày 30/04/1975).
Năm 1979, quân Trung cộng do Đặng Tiểu Bình huy động 60 vạn quân xâm lược miền Bắc Việt Nam và bị thất bại thê thảm
Năm 1984, bọn Trung cộng huy động hải quân đánh cướp đảo Gạc Ma.
Qua thế kỷ 21, chúng âm mưu xóa sổ Việt Nam, bằng lời kêu gọi trở về quê Mẹ "Dân tộc Kinh". Đó là điều hết sức vô lý.Bởi suốt hết dòng lịch sử 4.000 năm văn hiến của Đại Việt, dân tộc ta không hề trực thuộc dân tộc Kinh nào cả, mà chúng ta thuộc một trong một trăm họ Bách Việt, để trở thành Lạc Việt và nối dòng lịch sử cho đến tận ngày nay.
Sau 4.000 năm lịch sử như thế, người Trung Quốc đã biết sự đề kháng mảnh liệt của dân tộc Việt và cứ mỗi lần họ đánh chiếm đất nước ta, họ đều bị thất bại thảm khốc.Nhưng âm mưu bá quyền của Trung Quốc vẫn không chùn bước.Ngày nay, họ lại còn bày đặt thêm một dân tộc Kinh nào đó, để gán ghép cho dân tộc Việt quả là một điều sai lầm trọng đại đối với lịch sử và chắc chắn rằng, người Trung Quốc sẽ không bao giờ thành công như kinh nghiệm lịch sử mà chúng ta đã thấy.

Dòng sử Việt-Lịch sử Việt Nam.

Đại Việt sử ký toàn thư.

Nhiều tác giả biên soạn và trích từ :
Từ Điển Toàn Thư Mở Wikipédia.